Truy cập

Hôm nay:
1
Hôm qua:
0
Tuần này:
1
Tháng này:
0
Tất cả:
230619

Đình Đồng Minh, xã Minh Tâm - Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp tỉnh

Đăng lúc: 09/11/2022 (GMT+7)
100%

Hãy đến với đình Đồng Minh,
Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật cấp tỉnh
.
z3854604643240_a339de144e0b84a6050dd39d8795714d.jpg

1. Tên gọi: Di tích Di tích Kiến trúc Nghệ thuật Đình Đồng Minh.

2. Địa điểm: Đình Đồng Minh toạ lạc trên mảnh đất bằng phẳng ở trung tâm làng Đồng Minh xã Thiệu Minh (nay là xã Minh Tâm), huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Xã Thiệu Minh trước cách mạng tháng Tám thuộc tổng Xuân Lai, phủ Thiệu Hoá gồm các làng Ngô Xá Thượng, Ngô xá Hạ, Hà Thanh. Năm 1946 thành lập xã Đại Đồng, các làng trên đổi thành làng Đồng Minh, Đồng Chí, Đồng Minh. Năm 1953 – 1954, ba làng trên thuộc xã Thiệu Minh.

Làng Đồng Minh là một làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Chu, phía Tây giáp sông Nông giang (Kênh Bắc), phía Nam giáp chợ Hậu Hiền, phía Đông giáp sông Chu, phía Bắc giáp thôn Đông Chí.

Từ đầu thế kỷ XIX làng Đồng Minh có tên là Hà Xá thuộc tổng Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoá. Đời Đồng Khánh (1885 – 1888) là xã Hà Xá, tổng Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Đến thời vua Thành Thái (1889 – 1907) làng được đổi thành làng Hà Thanh. Có hai thôn là Thượng Thọ và Đông Thịnh. Năm 1946, lập xã Đại Đồng, làng Hà Thanh đổi thành làng Đồng Minh, thuộc xã Đại Đồng. Năm 1954, làng Đồng Minh thuộc xã Thiệu Minh.

Từ thành phố Thanh Hoá đi về hướng Tây, theo quốc lộ 45 qua Rừng Thông, đến Ngã Ba Chè đi thằng vào tỉnh lộ 515, qua Thiệu Vận, qua Hậu Hiền, rẽ phải vào xã Thiệu Minh cũ, đi khoảng gần 1 km đến làng Đồng Minh. Đình Đồng Minh nằm ở Trung tâm làng Đồng Minh.

3. Phận loại Di tích

Đình Đồng Minh thuộc loại Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật được UBND tỉnh công nhận (Di tích cấp tỉnh).

4. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm Di tích.

Đình Đồng Minh là một trong những ngôi đình khá nổi tiếng về mặt kiến trúc ở huyện Thiệu Hoá hiện nay. Tuy nhiên việc xác định nhân vật Thành Hoàng làng thờ tự tại đình rất khó khăn. Các tài liệu thành văn như sắc phong, câu đối, đại tự, văn tế đều bị thất lạc.

Theo các cụ già trong làng truyền lại, đình chỉ đảm nhiệm chức năng hành chính, hội họp của làng, việc thờ cúng thường nhật các vị thần trong làng ở Nghè (nằm trên cánh đồng phía Bắc của làng). Hàng năm cứ đến ngày 07 thàng Giêng âm lịch, dân làng rước thánh vị của Thiên thần Thiên Lôi (Thành hoàng của làng) về đình tế lễ. Sau buổi lễ làng lại rước thánh vị về nơi cũ. Trước đình được dựng ở phía Bắc làng, đến năm 1958 đình được làng chuyển về dựng tại địa điểm hiện nay.

Vào những năm 1960 ngôi đền phía Đông bị phá, tục thờ, tế lễ không được tổ chức thường xuyên, gần đây mới được khôi phục lại và Thành Hoàng làng được rước về thờ tại Đình

Tương truyền rằng Đình thờ Thành hoàng làng là thần Thiên Lôi. Cho đến nay vị thần nói trên chỉ nghe dân gian truyền tụng lại, các nguồn tư liệu như sắc phong, thần phả, thần tích chưa tìm thấy ở địa phương. Nguồn tư liệu này cũng chỉ có giá trị tham khảo.

Theo Lịch sử Đảng bộ xã Thiệu Minh, đình Đồng Minh gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử: Đình là nơi hội họp, nơi nổ ra các cuộc đấu tranh đòi giảm thuế thân, nơi luyện tập, cất giấu vũ khí thô sơ được giữ bí mật chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Năm 1948, Quân khu 3 mở trường Trung học Nguyễn Thượng Hiền, Tỉnh uỷ mở trường Trung học Trần Phú, Trung ương mở các lớp tập huấn cho cán bộ Việt Minh.

Cuộc cách mạng giảm tô, giảm giảm tức, cải cách ruộng đất 1955 – 1956 cũng diễn ra tại đình.

Tại đình đã chứng kiến các đợt huy động, tiễn đưa các tầng lớp con em thanh niên trong làng chi viện cho chiến trường Miền Nam đánh Mỹ cứu nước, nhiều năm đình là trường học, cửa hàng mua bán, kho chứa thóc của hợp tác xã.

Trong thời kỳ đổi mới, đình là nôi hội họp của dân làng Đồng Minh, đến năm 2015 nhà văn hoá thôn được xây dựng bên khu đất đói diện với đình, đình được trả về cho việc chuyên thờ Thành hoàng làng.

5. Tổng quan về đình Đồng Minh

- Diện tích khuôn viên đất đai: 454,2 m2, thửa 60, tờ bản đồ số 14, xã Thiệu Minh, tỉ lệ 1/2000, đo vẽ năm 2010.

- Chủ sở hữu đất đai: UBND xã Minh Tâm.
- Kiến trúc:

Cổng đình: Trước kia cổng được xây dựng bề thế, gồm hai cổng phụ và một cổng chính, hai cột nanh hai bên, trên đầu trụ gắn hai con nghê. Tuy nhiên cổng cũ nay đã bị phá, thay vào đó là kiểu cổng mới rộng 2,3 m, cao 2,5 m

Sân đình: Trước kia lát gạch bát 20 x 20, tuy nhiên khi làm sân kho Hợp tác xã, sân gạch hỏng, làng đổ bê tông sân, chiều dài 22,5 m x 14,5 m

Nhà đại đình: dựng theo hướng Đông, có kiến trúc chữ Nhất, nền cao hơn mặt là 0,2 m, khi hợp tác xã sử dụng đình làm kho thì xây bờ biênkhép kín (nay làng đã phá bỏ bờ hiên, để thông 4 mặt). Gian 1 và gian 2 mở cửa chính cao 1,96 m, rộng 1,1 m; gian 3 trổ cửa sổ cao 1,35 m, rộng 0,9 m. Phía tường hậu trổ 2 cửa sổ ở gian 1 và 3, cao 1,17 m, rộng 0,93 m.

Kích thước của các bước gian thể hiện như sau:

Dĩ đầu đốc Tây: 2,06 m

Gian thứ nhất rộng 2,59 m

Gian thứ hai rộng 2,95 m

Gian thứ ba rộng 2,64 m

Dĩ đầu đốc đông: 2,06 m

Tổng thể ngôi đình có 16 cột gỗ gồm 8 cột cái và 8 cột quân. Cột cái cao 4,07 m có chu vi 1,06 m, cột quân cao 3,02 m, chu vi 0,88 m. Chiều cao từ Thượng lương xuống nền cao 4,94 m

Khoảng cách từ tim cột quân đến cột cái trước là 01,55 m

Khoảng cách từ cột cái trước đến cột cái sau là 2,67 m

Khoảng cách từ cột cái sau đến cột quân là 1,55 m

Các vì kèo: Về bố cục kiến trúc của các vì kèo được cấu tạo bởi 3 gian, 4 vì kèo, mỗi vì có 4 cột có kết cấu cân đối và đối xứng nhau, gồm gian đầu đối xứng với gian cuối qua gian giữa, các vì kèo liên kết nhau theo kiểu giả chiêng, chồng rường, kẻ hiên trước, bẩy sau. Vì 1 đối xứng vì 4, vì 2 đối xứng vì 3. Tất cả cả vì kèo đều được liên kết với nhau theo một kiểu cấu trúc khung gỗ chắc chắn….

Toàn bộ rui me, hoành tải được làm bằng gỗ Tứ thiết; xà thượng, xà hạ, xà thế hoành được làm bằng gỗ lim hình dáng vuông vắn, soi gờ chỉ. Bộ mái lợp nói mũi hài.

Nghệ thuật chạm khắc: Đình Đồng Minh đươc chạm khắc tinh vi hình phượng hoá, ngựa hoá thạch sùng, lưỡng long chầu nguyệt, rồng vờn mây uốn lượn tinh tế, lá cúc cách điệu, cảnh chim sóc, hươu, nghê, hình cây hoá chim phượng, rùa đội lá sen, lân chầu, chim phượng xoè cánh rộng, cá chép hoá rồng, vân mây hình sóng nước cách điệu…

Hệ thống chạm lộng, chạm bong nhiều tầng, nhiều lớp, với nhiều sáng tạo về chủ đề kết hợp với sự cường điệu về hình khối, hình nét làm cho các hệ thống khung gỗ của đình Đồng Minh trở nên sống động mà nghệ nhân thể hiện vừa giàu hình ảnh biểu đạt trực quan trong không gian truyền thống thờ thành hoàng làng, vừa giàu tính tưởng tượng, mang nhiều giá trị nghệ thuật.

Thông qua ngôn ngữ biểu hiện chạm khắc gỗ của Đình Đồng Minh giúp chúng ta đoán được tín ngưỡng Nho, Phật giáo trong không gian văn hoá làng xã xứ Thanh. Những tư tưởng phản ánh của người xưa gửi gắm bằng ngôn ngữ điêu khắc gỗ giúp chúng ta có thể hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

Xin mời quý khách gần xa hãy đến với đình Đồng Minh để hiểu thêm về văn hoá truyền thống của cha ông và tham quan làng Đồng Minh, một miền quê cách mạng, hiếu khách.

Trần Cảnh

Đình Đồng Minh, xã Minh Tâm - Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp tỉnh

Đăng lúc: 09/11/2022 (GMT+7)
100%

Hãy đến với đình Đồng Minh,
Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật cấp tỉnh
.
z3854604643240_a339de144e0b84a6050dd39d8795714d.jpg

1. Tên gọi: Di tích Di tích Kiến trúc Nghệ thuật Đình Đồng Minh.

2. Địa điểm: Đình Đồng Minh toạ lạc trên mảnh đất bằng phẳng ở trung tâm làng Đồng Minh xã Thiệu Minh (nay là xã Minh Tâm), huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Xã Thiệu Minh trước cách mạng tháng Tám thuộc tổng Xuân Lai, phủ Thiệu Hoá gồm các làng Ngô Xá Thượng, Ngô xá Hạ, Hà Thanh. Năm 1946 thành lập xã Đại Đồng, các làng trên đổi thành làng Đồng Minh, Đồng Chí, Đồng Minh. Năm 1953 – 1954, ba làng trên thuộc xã Thiệu Minh.

Làng Đồng Minh là một làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Chu, phía Tây giáp sông Nông giang (Kênh Bắc), phía Nam giáp chợ Hậu Hiền, phía Đông giáp sông Chu, phía Bắc giáp thôn Đông Chí.

Từ đầu thế kỷ XIX làng Đồng Minh có tên là Hà Xá thuộc tổng Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoá. Đời Đồng Khánh (1885 – 1888) là xã Hà Xá, tổng Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Đến thời vua Thành Thái (1889 – 1907) làng được đổi thành làng Hà Thanh. Có hai thôn là Thượng Thọ và Đông Thịnh. Năm 1946, lập xã Đại Đồng, làng Hà Thanh đổi thành làng Đồng Minh, thuộc xã Đại Đồng. Năm 1954, làng Đồng Minh thuộc xã Thiệu Minh.

Từ thành phố Thanh Hoá đi về hướng Tây, theo quốc lộ 45 qua Rừng Thông, đến Ngã Ba Chè đi thằng vào tỉnh lộ 515, qua Thiệu Vận, qua Hậu Hiền, rẽ phải vào xã Thiệu Minh cũ, đi khoảng gần 1 km đến làng Đồng Minh. Đình Đồng Minh nằm ở Trung tâm làng Đồng Minh.

3. Phận loại Di tích

Đình Đồng Minh thuộc loại Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật được UBND tỉnh công nhận (Di tích cấp tỉnh).

4. Sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc điểm Di tích.

Đình Đồng Minh là một trong những ngôi đình khá nổi tiếng về mặt kiến trúc ở huyện Thiệu Hoá hiện nay. Tuy nhiên việc xác định nhân vật Thành Hoàng làng thờ tự tại đình rất khó khăn. Các tài liệu thành văn như sắc phong, câu đối, đại tự, văn tế đều bị thất lạc.

Theo các cụ già trong làng truyền lại, đình chỉ đảm nhiệm chức năng hành chính, hội họp của làng, việc thờ cúng thường nhật các vị thần trong làng ở Nghè (nằm trên cánh đồng phía Bắc của làng). Hàng năm cứ đến ngày 07 thàng Giêng âm lịch, dân làng rước thánh vị của Thiên thần Thiên Lôi (Thành hoàng của làng) về đình tế lễ. Sau buổi lễ làng lại rước thánh vị về nơi cũ. Trước đình được dựng ở phía Bắc làng, đến năm 1958 đình được làng chuyển về dựng tại địa điểm hiện nay.

Vào những năm 1960 ngôi đền phía Đông bị phá, tục thờ, tế lễ không được tổ chức thường xuyên, gần đây mới được khôi phục lại và Thành Hoàng làng được rước về thờ tại Đình

Tương truyền rằng Đình thờ Thành hoàng làng là thần Thiên Lôi. Cho đến nay vị thần nói trên chỉ nghe dân gian truyền tụng lại, các nguồn tư liệu như sắc phong, thần phả, thần tích chưa tìm thấy ở địa phương. Nguồn tư liệu này cũng chỉ có giá trị tham khảo.

Theo Lịch sử Đảng bộ xã Thiệu Minh, đình Đồng Minh gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử: Đình là nơi hội họp, nơi nổ ra các cuộc đấu tranh đòi giảm thuế thân, nơi luyện tập, cất giấu vũ khí thô sơ được giữ bí mật chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Năm 1948, Quân khu 3 mở trường Trung học Nguyễn Thượng Hiền, Tỉnh uỷ mở trường Trung học Trần Phú, Trung ương mở các lớp tập huấn cho cán bộ Việt Minh.

Cuộc cách mạng giảm tô, giảm giảm tức, cải cách ruộng đất 1955 – 1956 cũng diễn ra tại đình.

Tại đình đã chứng kiến các đợt huy động, tiễn đưa các tầng lớp con em thanh niên trong làng chi viện cho chiến trường Miền Nam đánh Mỹ cứu nước, nhiều năm đình là trường học, cửa hàng mua bán, kho chứa thóc của hợp tác xã.

Trong thời kỳ đổi mới, đình là nôi hội họp của dân làng Đồng Minh, đến năm 2015 nhà văn hoá thôn được xây dựng bên khu đất đói diện với đình, đình được trả về cho việc chuyên thờ Thành hoàng làng.

5. Tổng quan về đình Đồng Minh

- Diện tích khuôn viên đất đai: 454,2 m2, thửa 60, tờ bản đồ số 14, xã Thiệu Minh, tỉ lệ 1/2000, đo vẽ năm 2010.

- Chủ sở hữu đất đai: UBND xã Minh Tâm.
- Kiến trúc:

Cổng đình: Trước kia cổng được xây dựng bề thế, gồm hai cổng phụ và một cổng chính, hai cột nanh hai bên, trên đầu trụ gắn hai con nghê. Tuy nhiên cổng cũ nay đã bị phá, thay vào đó là kiểu cổng mới rộng 2,3 m, cao 2,5 m

Sân đình: Trước kia lát gạch bát 20 x 20, tuy nhiên khi làm sân kho Hợp tác xã, sân gạch hỏng, làng đổ bê tông sân, chiều dài 22,5 m x 14,5 m

Nhà đại đình: dựng theo hướng Đông, có kiến trúc chữ Nhất, nền cao hơn mặt là 0,2 m, khi hợp tác xã sử dụng đình làm kho thì xây bờ biênkhép kín (nay làng đã phá bỏ bờ hiên, để thông 4 mặt). Gian 1 và gian 2 mở cửa chính cao 1,96 m, rộng 1,1 m; gian 3 trổ cửa sổ cao 1,35 m, rộng 0,9 m. Phía tường hậu trổ 2 cửa sổ ở gian 1 và 3, cao 1,17 m, rộng 0,93 m.

Kích thước của các bước gian thể hiện như sau:

Dĩ đầu đốc Tây: 2,06 m

Gian thứ nhất rộng 2,59 m

Gian thứ hai rộng 2,95 m

Gian thứ ba rộng 2,64 m

Dĩ đầu đốc đông: 2,06 m

Tổng thể ngôi đình có 16 cột gỗ gồm 8 cột cái và 8 cột quân. Cột cái cao 4,07 m có chu vi 1,06 m, cột quân cao 3,02 m, chu vi 0,88 m. Chiều cao từ Thượng lương xuống nền cao 4,94 m

Khoảng cách từ tim cột quân đến cột cái trước là 01,55 m

Khoảng cách từ cột cái trước đến cột cái sau là 2,67 m

Khoảng cách từ cột cái sau đến cột quân là 1,55 m

Các vì kèo: Về bố cục kiến trúc của các vì kèo được cấu tạo bởi 3 gian, 4 vì kèo, mỗi vì có 4 cột có kết cấu cân đối và đối xứng nhau, gồm gian đầu đối xứng với gian cuối qua gian giữa, các vì kèo liên kết nhau theo kiểu giả chiêng, chồng rường, kẻ hiên trước, bẩy sau. Vì 1 đối xứng vì 4, vì 2 đối xứng vì 3. Tất cả cả vì kèo đều được liên kết với nhau theo một kiểu cấu trúc khung gỗ chắc chắn….

Toàn bộ rui me, hoành tải được làm bằng gỗ Tứ thiết; xà thượng, xà hạ, xà thế hoành được làm bằng gỗ lim hình dáng vuông vắn, soi gờ chỉ. Bộ mái lợp nói mũi hài.

Nghệ thuật chạm khắc: Đình Đồng Minh đươc chạm khắc tinh vi hình phượng hoá, ngựa hoá thạch sùng, lưỡng long chầu nguyệt, rồng vờn mây uốn lượn tinh tế, lá cúc cách điệu, cảnh chim sóc, hươu, nghê, hình cây hoá chim phượng, rùa đội lá sen, lân chầu, chim phượng xoè cánh rộng, cá chép hoá rồng, vân mây hình sóng nước cách điệu…

Hệ thống chạm lộng, chạm bong nhiều tầng, nhiều lớp, với nhiều sáng tạo về chủ đề kết hợp với sự cường điệu về hình khối, hình nét làm cho các hệ thống khung gỗ của đình Đồng Minh trở nên sống động mà nghệ nhân thể hiện vừa giàu hình ảnh biểu đạt trực quan trong không gian truyền thống thờ thành hoàng làng, vừa giàu tính tưởng tượng, mang nhiều giá trị nghệ thuật.

Thông qua ngôn ngữ biểu hiện chạm khắc gỗ của Đình Đồng Minh giúp chúng ta đoán được tín ngưỡng Nho, Phật giáo trong không gian văn hoá làng xã xứ Thanh. Những tư tưởng phản ánh của người xưa gửi gắm bằng ngôn ngữ điêu khắc gỗ giúp chúng ta có thể hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

Xin mời quý khách gần xa hãy đến với đình Đồng Minh để hiểu thêm về văn hoá truyền thống của cha ông và tham quan làng Đồng Minh, một miền quê cách mạng, hiếu khách.

Trần Cảnh

0 bình luận
(Bấm vào đây để nhận mã)

CÔNG KHAI TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT TTHC

CHI TIẾT